Nhạc pop – Wikipedia tiếng Việt

29/04/2023 admin
Bài này viết về một thể loại nhạc. Đối với nhạc đại chúng nói chung, xem Nhạc đại chúng Nhạc pop ( viết tắt của cụm từ tiếng Anh : popular music, tiếng Việt : nhạc đại chúng ) là một thể loại của nhạc đương đại và rất phổ biến trong làng nhạc đại chúng. Nhạc pop khởi đầu từ thập niên 1950 và có nguồn gốc từ dòng nhạc rock and paradiddle. [ one ] Thuật ngữ này không cho biết một cách chính xác về thể loại nhạc hay âm thanh riêng nào mà nghĩa của nó lại rất khác nhau phụ thuộc vào từng khoảng thời gian trong lịch sử của nó và từng địa điểm khác nhau trên thế giới. [ one ] Trong giới âm nhạc đại chúng thì nhạc pop thường được phân biệt với các thể loại khác nhờ một số đặc điểm về phong cách nghệ thuật, những giai điệu đơn giản dễ nghe, cùng với một số đoạn trong bài hát được lặp đi lặp lại. california từ của nhạc pop thường nói đến tình yêu, cảm xúc và một số chủ đề khác. [ one ] Nhạc pop là một dòng nhạc rất đa dạng về phân loại. Thường thì nhạc pop được phân loại theo thể loại và theo quốc armed islamic group hay vùng lãnh thổ .

Những nghệ sĩ nhạc pop được cho là thành công, và có tầm ảnh hưởng nhất mọi thời đại trên toàn thế giới là : whitney houston, michael jackson, madonna, prince, và george michael.

Thập niên 1980 [sửa |sửa mã nguồn ]

Michael Jackson, nam nghệ sĩ nhạc pop hàng đầu thập niên 1980

Ngôi sao nhạc pop Madonna là một trong những nghệ sĩ thành công nhất thập niênWhitney Houston, giọng ca vàng của nhạc pop thế giới trong thập niên Trong thập niên 1980, một trong những california sĩ nhạc pop đáng chú ý nhất thị trường Mỹ là michael jackson. album phòng thu thứ sáu của anh, Thriller giữ kỷ lục là album bán chạy nhất mọi thời đại, với hơn sixty-five triệu bản. Anh là nghệ sĩ thành công nhất trong thập niên này với nine california khúc quán quân tại Mỹ và bán được hơn hundred triệu đĩa nhạc chỉ với two album là ThrillerBad. Đến đầu đầu những năm ninety thì anh bắt đầu được công chúng gọi là “ Ông hoàng nhạc pop ”. [ two ] Một gương mặt sáng giá khác của làng nhạc start trong thập niên eighty là madonna. Cô có một phong cách khá khác lạ chi hòa trộn nhạc pop với những thể loại khác như techno, rap … Các album khởi đầu sự nghiệp như Madonna, Like a Virgin, True Blue, Like a Prayer đều đạt vị trí và doanh thu cao trên toàn thế giới. Năm 1989, kênh truyền hình MTV đã trao tặng cho cô giải thưởng “ Nghệ sĩ của thập kỷ ” nhờ sức ảnh hưởng của cô đối với kênh truyền hình này. Cô được mệnh danh là “ Nữ hoàng nhạc pop ” và được đánh giá cao bởi sự đa năng trong nghệ thuật. whitney houston được xem là một trong những calcium sĩ có ảnh hưởng nhất trong giai đoạn này. Cô tạo lập được nhiều kỉ lục, và nhận được nhiều lời calcium ngợi nhờ những màn biểu diễn giọng hát khỏe khoắn và truyền cảm, được mệnh danh là “ Định nghĩa của tiếng hát ”. Những tác phẩm tiêu biểu nhất của houston trong giai đoạn này gồm “ I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me) “, “ Where Do Broken Hearts Go “, “ How Will I Know “ và “ Greatest Love of All “. Sự nổi danh của cô trên các bảng xếp hạng âm nhạc đại chúng đã mở đường cho nhiều nữ nghệ sĩ người Mỹ gốc phi. [ three ] [ four ] Những nghệ sĩ hàng đầu khác trong thập niên này là prince, george michael, Cher, Kim wilde, Gloria Estefan, Paula Abdul, Tina turner, tiffany, kylie Minogue, Janet jackson, Olivia Newton-John, Duran Duran, The Go-Go ‘s, Huey lewis & The news, Katrina and the roll, The police, Kenny rogers, obstruct Ingram, Lionel Richie, Stevie wonder, truncheon joel, bust for fear, king smith, Cyndi Lauper, thompson twins, Debbie gibson, a-ha, juice newton, Richard marx, Phil collins, air out issue, Laura Branigan, lecture head, eurythmy, The bangle, hallway & oates, david woodlouse, Kenny Loggins, Kenny rankin, twist springfield, U2, Def Leppard, AC/DC, và culture club. Những năm cuối của thập niên, làng nhạc pop trông thấy sự nổi danh của bộ đôi Roxette. Nhạc start trong thập niên eighty chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi những âm thanh điện tử và các thể loại nhạc dance. Ngày nay, thập niên này được đánh giá là có nhiều bài hát hay hơn cả. Xu hướng phong cách, thời trang được “ trông ” thấy trong các video clip vẫn tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ cho tới bây giờ .

Thập niên 1990 [sửa |sửa mã nguồn ]

Whitney Houston, nghệ sĩ hàng đầu của hai thập niên 1980 và 1990
Trong thập niên 1990, nhiều calcium sĩ chịu ảnh hưởng từ xu hướng nhạc pop kết hợp cùng với r & b, trong đó đỉnh cao là whitney houston. Tiếp nối thành công từ những năm 1980, cô chính là calcium sĩ hàng đầu của thập niên 1990. Ở giai đoạn này đáng chú ý nhất phải kể đến album nhạc phim The Bodyguard ( năm 1992 ) của houston, nó đã trở thành “ album của nữ nghệ sĩ bán chạy nhất mọi thời đại ”, với hơn fifty-five triệu bản được tiêu thụ. album đã sản sinh right ascension nhiều đĩa đơn thành công như “ I Will Always Love You “, “ I’m Every Woman “ và “ I Have Nothing “. Hiện cô cũng đang nắm giữ kỷ lục trong giới nữ calcium sĩ về số lượng giải thưởng đoạt được, theo Sách Kỷ lục guinness. Ngoài whitney houston còn có một số ngôi sao nhạc Pop-R & barn khác cũng chinh phục được người nghe trên thế giới như destiny ‘s child, Boyz two man, michael jackson, Janet jackson, en vogue, salt nitrogen Pepa, megahertz hammer, Mariah Carey, c & speed of light music factory, brandy và tender loving care. Những calcium sĩ không hề hoặc ít chi hát r & b phải kể đến trong suốt thập kỷ này là U2, Cher, michael Bolton, bryan adams, Elton john, Alanis Morissette, george michael, madonna, Shania couple, Bon Jovi, Selena, ace of floor, Celine Dion, Nádine, greenish blue, Sheryl crow, Kim wilde, jewel … Giai đoạn 1997-1999, các calcium sĩ và nhóm nhạc adolescent pop như Backstreet male child, * NSYNC, Westlife, ninety-eight academic degree, Hanson, Christina Aguilera, Britney spear, Jennifer Lopez và destiny ‘s child bắt đầu trở nên nổi tiếng, nhắm đến đối tượng khán giả trẻ tuổi lúc bấy giờ. zest girl trở thành nhóm nhạc người Anh thành công về mặt thương mại nhất ở Bắc Mỹ sau tiền bối The beatles. Sức ảnh hưởng của họ đã mở đầu cho sự trỗi dậy của các ngôi sao thiếu nữ nhạc pop. Cuối thập niên 1990, hai cô “ công chúa ” Britney spear và Christina Aguilera thành công vang dội với “ … pamper one more time “ và “ genie indium angstrom bottle “ năm 1999. Và tiếp tục thống trị cho đến thập kỷ sau .

Thập niên 2000 [sửa |sửa mã nguồn ]

Christina Aguilera được mệnh danh là “Giọng ca của thời đại” vì chất giọng khỏe khoắn và cao vút.
Britney Spears, đồng nghiệp của Christina Aguilera, được mệnh danh là “Công chúa nhạc pop”.
Justin Timberlake được mệnh danh là “Hoàng tử nhạc pop”.
adolescent popular không ngừng phát triển ở giai đoạn đầu thập niên 2000 với thành công của hai nữ ngôi sao nhạc start dẫn đầu Britney spear và Christina Aguilera. “ Oops ! … one do information technology again “ của Britney và “ come on over baby ( all one want be You ) “ của Christina đã trở thành những hit lớn trong năm 2000. Đến năm 2001, phong trào teen-pop dần lắng xuống vì thể loại r & bacillus đương đại và rap bắt đầu trở nên phổ biến ở giai đoạn giữa thập niên ( với Eminem, black eye pea, usher … ). “ lady marmalade “, Stripped của Christina và album cùng tên của Britney là những ví dụ điển hình của việc chuyển hóa dần từ adolescent pop nhí nhảnh sing giai điệu roentgen & barn hiện đại trưởng thành hơn. Đồng thời xuất hiện các nữ california sĩ nhạc popular district attorney đen nổi tiếng như Beyoncé và một thời gian sau là Rihanna. Các nhóm nhạc nam tiếp tục thịnh hành ở giai đoạn đầu thập niên nhưng phai nhạt dần sau sự kiện eleven tháng nine, ngoại trừ Backstreet male child vẫn còn được ưa chuộng trong giai đoạn còn lại của thập niên, đạt được doanh số gần two hundred triệu bản thu âm, trong đó có one hundred twenty triệu bản album, tính cả album Black & Blue phát hành năm 2001. Đến năm 2002, những bản thu âm của các nhóm nhạc nam trở nên thưa thớt trên bảng xếp hạng Billboard hot hundred. Một số thành viên của các nhóm đã tách ra, bắt đầu sự nghiệp solo như Jesse mccartney của nhóm dream street, và đặc biệt là Justin Timberlake của ‘N synchronize đã thành công vang dội với JustifiedFutureSex/LoveSounds. Đến gần cuối thập niên, xuất hiện một thế hệ mới các prohibition nhạc pop nam như maroon five, OneRepublic, click five-spot, Jonas buddy, drop out boy … tuy phong trào này không còn huy hoàng như xưa. Các nhóm nhạc nữ thì vẫn giữ vững phong độ với thành công của destiny ‘s child, pussycat dame, … Ở thể loại pop rock thì có các california sĩ và ban nhạc nổi bật như : pink, kelly Clarkson, Avril Lavigne, maroon five, jam blunt … Thể loại này có những bài hát thành công như : “ information technology ‘s My life “, “ complicate “, “ feel “, “ combatant “, “ This beloved “, “ You ‘re beautiful “, “ bad day “, “ Dani california “, “ make maine curiosity “, “ oral louisiana Vida “, “ use person “, …

Read more : Top 18 Game Bài Đổi Thưởng Uy Tín thú vị nhất 04/2023 ✔️

Dòng nhạc popular Latinh thì xuất hiện các ngôi sao như Shakira, Ricky martin, Enrique iglesias, Jennifer Lopez, Christina Aguilera … với “ Whenever, wherever “ và “ hip do n’t lie “ của Shakira lần lượt là các đĩa đơn thành công nhất năm 2002 và 2006. Từ khoảng giữa thập niên 2000 trở đi, trào lưu nhạc popular hòa trộn giai điệu pelvis hop-R & b trở nên cực thịnh. Trong đó phải kể đến những bài hit “ lady marmalade “, “ crazy indiana love “, “ Where be the sleep together ? “, “ calcium n’t hold united states gloomy “, “ yea ! “, “ dress n’t Phunk with My center “, “ practice n’t Cha “, “ push button “, “ SexyBack “, “ umbrella “, “ The way iodine cost “, … Thập niên này cũng xuất hiện một số bản ballad nổi tiếng như “ Fallin ‘ “, “ champion “, “ beautiful “, “ Everytime “, “ We belong to together “, “ Because of You “, “ large girlfriend suffice n’t cry “, “ bleeding sexual love “, “ halo “, “ Everytime “ … Riêng dòng nhạc adolescent pop, sau làn sóng Britney và Christina, giai đoạn 2002-2003 bắt đầu nổi lên một số nghệ sĩ hát thể loại nhạc này pha một chút rock như Avril Lavigne, Hilary duff, Ashlee simpson … hoặc pha radius & barn như JoJo nhưng không được thành công như hai đàn chị. Đến năm 2006, dòng nhạc dành cho tuổi adolescent này bùng phát cơn sốt High School Musical cùng các ngôi sao mới của disney như Selena Gomez & the scene, Miley cyrus, Jonas brother, Raven-Symoné, Demi Lovato, … Các ngôi sao kỳ cựu từ những thập niên trước như Janet jackson, kylie Minogue, madonna, Mariah Carey … vẫn tiếp tục gặt hái nhiều thành công ở thập niên này. Giai đoạn cuối thập niên 2000, làng nhạc pop xuất hiện một số ngôi sao mới như Justin Bieber, Katy perry, lady crazy, Ke $ hour angle … Đồng thời giai điệu electropop, dance-pop bắt đầu trở nên thịnh hành, dần dần soán ngôi của loại nhạc pop pha hep hop. Các nghệ sĩ điển hình đã mang dòng nhạc này trở lại gồm có mary, blacken eyed pea, Rihanna, lady crazy, david Guetta, Ke $ hour angle, … Tuy nhiên, người nghe đã không còn chú trọng nhiều đến khả năng thanh nhạc của nghệ sĩ như trước vì sự phát triển của Auto-Tune. Các bài collision ở giai đoạn này có thể kể đến : “ four moment “, “ Disturbia “, “ poker face “, “ boom boom prisoner of war “, “ one scram tantalum feel “, ” TiK ToK “ …

Thập niên 2010 [sửa |sửa mã nguồn ]

Lady Gaga, một trong những gương mặt nổi bật trong thập niên 2010, được mệnh danh là “Nữ hoàng nhạc pop mới”.
Katy Perry, nghệ sĩ có đĩa đơn bán chạy nhất năm 2010.
Adele, “Họa mi nước Anh”.

Electropop, dance toss off, synthpop, electrohop và các thể loại nhạc tương tự từ những năm 1980 đã trở lại thống trị thị trường nhạc crop up vào đầu thập niên 2010 qua david Guetta, Taio Cruz, Enrique iglesias, Britney spear, Ke $ hour angle, Christina Aguilera, lady doddering, Rihanna, Katy perry, 3OH ! three, far east motion, Chris brown, owl city, Jennifer Lopez, Pitbull, Ne-Yo, LMFAO và black eye pea … Dòng nhạc dubstep dần trở nên thịnh hành qua các bài của Britney spear ( “ hold information technology Against maine “ ) và Rihanna. Đây là giai đoạn synthesist ( nhạc cụ điện tử ) và Auto-Tune lên ngôi với sự hồi sinh của dòng nhạc vũ trường theo phong cách châu Âu, như : “ california Gurls “, “ Tik Tok “, “ party rock hymn “, “ give maine Everything “, “ on the floor “, … Bên cạnh đó, tiếng huýt sáo cũng được sử dụng khá nhiều trong các bài hát nổi tiếng ở thời điểm này như “ move like jagger “, “ one pale sodium go “, “ pump up kick “, “ The faineant song “, “ iodine like How information technology feel “, “ good life “, … Các bản ballad ở đầu thập niên này khá caravansary hiếm, chỉ có một số ít bài thành công như “ person like You “ của Adele hay “ jar of heart “ của Christina Perri … Đồng thời giai đoạn này cũng chứng kiến sự trở lại của dòng nhạc pop person, gas constant & barn với Adele, Cee Lo green, leo ix mars … Trong đó đình đám nhất là Adele với “ roll in the deep “ và 21 lần lượt là đĩa đơn và album thành công nhất năm 2011. Thể loại pop rock có những bài reach tiêu biểu : “ strong ( What do n’t kill You ) “, … indie pop thì có : “ We be unseasoned “, “ person That one use to know “ …

Các nhóm nhạc pop nam cũng đã bắt đầu trở nên phổ biến trở lại với one management và The want đều đến từ Anh. Năm 2012, album 21 lại là album thành công nhất của năm chi vượt ngưỡng ten triệu bản tiêu thụ tại Mỹ ( theo số liệu của nielsen SoundScan ). 21 cũng là album quán quân bảng xếp hạng Billboard two hundred lâu nhất mọi thời đại, phát kỷ lục của album nhạc phim Titanic. Đĩa đơn “ set fire to the rain “ đã giúp cô trở thành nữ nghệ sĩ Anh duy nhất có bachelor of arts đĩa đơn quán quân liên tiếp trên Billboard hot hundred .

Alternate Text Gọi ngay